Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học cây Nhãn dê Lepisanthes rubiginosa (Roxb.) Leenh và tạo chế phẩm có khả năng kháng ung thư từ cây này

24/11/2020
Cây Nhãn dê là cây thuốc dân gian có tên khoa học Lepisanthes rubiginosa (Roxb.) Leenh thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae). Đây là cây bụi hay cây gỗ nhỏ, cao 3-10m, nhánh non phủ lớp lông dày đặc màu gỉ sắt; lá mọc kép dạng lông chim, dài 25-40cm, mọc thành 2-8 đôi, thường mọc đối, thuôn hay bầu dục dài 8-20cm, rộng 2,5-6cm. Lá cây thường tròn, tù hay không cân ở gốc, thon hẹp, đầu lá tù gần như nhọn, dai hoặc mềm, xám ở trên, đo đỏ ở dưới, có thể dài đến 20cm, rộng tới 8cm. Cụm hoa chùy tròn ở ngọn cành.

Ở nước ta, cây mọc trong các quần hệ thứ sinh ở nhiều nơi từ Lạng Sơn, Ninh Bình, Hà Tây tới Nghệ An, Quảng Bình, Thừa Thiên - Huế, Kontum, Gia Lai, Đắc Lắc. Cây có thể được trồng trên đất xấu, khô kiệt ở vùng đất cát ven bờ.

Trong dân gian, cây còn được ứng dụng như: Chồi lá non được dùng ăn ở đảo Java (Indonesia), được xem như có an thần, làm dịu các cơn mất ngủ. Quả có áo hạt có thể ăn được, hơi chát lúc còn xanh, khi chín ăn ngọt. Ở Malaixia, người ta dùng lá và rễ làm thuốc đắp, rễ được dùng sắc nước uống để trị các trường hợp sốt. Nước sắc hạt dùng trị ho gà.

 

Hình 1: cây Nhãn dê (Ảnh: Internet)

Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu thành phần hóa học các hợp chất có hoạt tính kháng ung thư và tạo chế phẩm có khả năng kháng ung thư từ cây Nhãn dê, Viện Hóa học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã thực hiện đề tài "Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học cây Nhãn dê Lepisanthes rubiginosa (Roxb.) Leenh và tạo chế phẩm có khả năng kháng ung thư từ cây này", mã số VAST04.02/18-19, thời gian thực hiện từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 6 năm 2020 do PGS.TS. Trần Văn Lộc làm chủ nhiệm. 

Những kết quả mà nhóm nghiên cứu đã thu được: 

1. Từ cành lá cây nhãn dê: Đã chiết tách và xác định cấu trúc hóa học của 11 hợp chất, trong đó có 04 chất mới: 02 là các glycoside của acid oleanolic [Lepisantheside C (ND8), Lepisantheside A (ND9)] và 02 chất là các pentaglycoside của farnesol [Lepisantheside B (ND10), Lepisantheside D (ND11)] và 7 chất lần đầu tiên được phân lập từ loài này. (Hình 2)

Hình 2: Cấu trúc của các chất mới phân lập được

2. Đã thử hoạt tính gây độc tế bào ung thư của số chất có hoạt tính ở mức trung bình đến khá. Dịch chiết BuOH và chế phẩm của lá và cành loài Nhãn dê thể hiện hoạt tính ức chế tốt cả 4 dòng tế bào ung thư thử nghiệm là KB, HepG2, MCF-7 và Lu-1 với giá trị IC50≥ 7,14 -30,15 µg/ml.

3. Xác định được độc tính cấp của chế phẩm Nhãn dê với giá trị LD50 là 15g/kg thể trọng. Với liều LD50 này dịch chiết thuộc loại không có độc.

4. Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở của chế phẩm Nhãn dê: Chế phẩm CPND thể hiện hoạt tính ức chế đối với cả bốn dòng tế bào khá mạnh: ung thư phổi, ung thư biểu mô, ung thư vúvà ung thư gan: với giá trị (IC50 7,14 -30,15 µg/ml). Chế phẩm CPND không gây độc tính cấp trên động vật thực nghiệm là chuột nhắt trắng theo đường uống với liều thử nghiệm cao nhất là 15.000 mg/kg thể trọng.

5. Đã xây dựng quy trình tạo chế phẩm từ cây nhãn dê quy mô 10 kg nguyên liệu/mẻ. (Hình 3)

Hình 3: Quy trình tạo chế phẩm CPND quy mô 10 kg nguyên liệu/mẻ

Kết quả của đề tài đã đăng 01 bài trên tạp chí Natural Product Research, hỗ trợ đào tạo 1 tiến sỹ. 

Ngày 17/09/2020, Hội đồng nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã họp nghiệm thu nhiệm vụ và đánh giá Đề tài xếp loại Xuất sắc.

Với những kết quả thu được, đề tài sẽ mở ra hướng cần nghiên cứu sâu hơn về cơ chế gây độc tế bào của chế phẩm, tạo tiền đề ứng dụng sản phẩm của đề tài làm sản phẩm chức năng hỗ trợ điều trị ung thư. 

Nguồn tin: PGS.TS. Trần Văn Lộc, Viện Hóa học
Xử lý tin: Phương Hà


Tags:
Tin liên quan