Viện Tài Nguyên và Môi trường biển thành công trong việc xác định các bãi đẻ của một số loài cá vùng cửa sông ven biển Quảng Ninh - Hải Phòng

07/04/2021
Đề tài “Xác định các bãi đẻ của một số loài cá vùng cửa sông ven bờ Quảng Ninh – Hải Phòng bằng phương pháp thủy âm sinh học thụ động” do PGS.TS. Nguyễn Văn Quân làm chủ nhiệm là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam về ứng dụng công nghệ thủy âm sinh học thụ động trong việc nghiên cứu các bãi đẻ của cá đù.

Hình ảnh cá đù (dân địa phương gọi là cá Dụng)– loài cá có giá trị kinh tế cao

Với mục tiêu khoanh vùng các bãi đẻ của một số loài có giá trị kinh tế thuộc họ cá đù (Sciaenidae) ở các vùng cửa sông ven bờ Quảng Ninh – Hải Phòng và đề xuất các khu vực đánh bắt có kỳ hạn theo mùa trong năm nhằm bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi cá tự nhiên trong khu vực nghiên cứu, đề tài đã thu được một số kết quả nổi bật như sau:

- Về khoa học:
+ Điều kiện tự nhiên các bãi đẻ của cá đù: Khu vực cửa sông Tiên Yên, cửa sông Bạch Đằng và cửa sông Văn Úc có đầy đủ các điều kiện thuận lợi để hình thành nên các bãi đẻ của các loài cá đù.
+ Thành phần trứng cá, cá bột của cá đù: Đề tài đã xác định trong khu vực nghiên cứu có 32 họ trứng cá, cát bột phân bố. Trong đó họ cá đù có 7 giống với mật độ trứng cá, cá bột trung bình là 136,67 đơn vị/1.000m3.
+ Đa dạng thành phần loài cá đù: Đề tài đã xác định trong khu vực nghiên cứu có 15 loài cá đù, thuộc 9 giống khác nhau.
+ Đặc điểm sinh học, sinh sản, tập tính kết đàn của các loài cá đù: Các loài cá đù tại khu vực nghiên cứu có kích thước, khối lượng lớn nhất vào tháng 2 và tháng 8 hàng năm. Thành thục sinh dục và sinh sản chính vào các tháng này.
+ Đặc điểm âm thanh của 3 loài cá đù trong điều kiện nuôi nhốt (Cá Đù đầu to (Collichthys lucidus), cá Sửu (Nibea soldado) và loài cá Đù đuôi bằng (Pennahia anea): Đã phân tích được đặc điểm âm thanh đặc trưng của các loài cá đù nghiên cứu để xây dựng cơ sở dữ liệu âm thanh cho từng loài.
+ Khoanh vùng các bãi đẻ của cá đù tại các khu vực nghiên cứu: Đề tài đã xác được được khu vực cửa sông Tiên Yên có 04 bãi đẻ, cửa sông Bạch Đằng có 02 bãi đẻ và cửa sông Văn Úc có 02 bãi đẻ.
+ Đề xuất các khu vực đánh bắt có kỳ hạn theo mùa trong năm nhằm bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi: Cần đưa vào danh sách các khu vực cấm đánh bắt từ tháng 2 đến tháng 4 và từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm. Các giải pháp cụ thể bao gồm: giải pháp quy hoạch quản lý, giải pháp khoa học kỹ thuật, giải pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân, giải pháp khai thác và phát triển bền vững.

- Về ứng dụng: Kết quả của đề tài làm căn cứ khoa học đề xuất các khu bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và các bãi đẻ nói riêng ở các vùng cửa sông Tiên Yên, cửa sông Bạch Đằng và cửa sông Văn Úc. Các kết quả nghiên cứu của đề tài được chuyển giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh Quảng Ninh và Hải Phòng, Ban quản lý vịnh Hạ Long và Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà để thúc đẩy các giải pháp quản lý hữu hiệu nguồn lợi thủy sản ven biển.

Trong thời gian nghiên cứu, đề tài đã công bố được 4 bài báo trên tạp chí quốc tế (SCI, SCI-E), 2 bài báo trong nước, xuất bản 1 sách chuyên khảo song ngữ Anh Việt; hỗ trợ đào tạo được 01 tiến sỹ và 01 thạc sỹ. Bên cạnh đó đề tài cũng cung cấp bộ tư liệu thu thập, điều tra và phân tích về hiện trạng phân bố các bãi đẻ, các hoạt động khai thác và sử dụng nguồn lợi họ cá đù tại vùng cửa sông ven bờ Quảng Ninh – Hải Phòng; Sơ đồ phân bố các bãi đẻ của 03 loài thuộc họ cá đù tại 03 vùng cửa sông ven bờ (Tiên Yên, Bạch Đằng và Văn Úc); Các biện pháp quản lý các bãi đẻ của cá tại một số vùng cửa sông ven bờ khu vực nghiên cứu; Bộ mẫu tiêu bản các loài thuộc họ cá đù được lựa chọn nghiên cứu.

Đề tài đã nghiệm thu đạt loại Xuất sắc cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

PGS.TS. Nguyễn Văn Quân trong chuyến khảo sát thu mẫu

Đoàn khảo sát đi thu mẫu cá đêm

Nghiên cứu về bãi đẻ của cá đù tại các vùng cửa sông bằng phương pháp thủy âm sinh học thụ động là một vấn đề rất mới đối với Việt Nam khi đòi hỏi cách tiếp cận rất sâu về mặt sinh lý, sinh thái của các loài cá đù khác nhau, yêu cầu kiến thức tổng hợp về các tập tính sinh học, điều kiện sinh thái của cá đù. Các kết quả đạt được của đề tài mới chỉ là những bước nghiên cứu sơ khai nên rất cần được tiếp tục mở rộng nghiên cứu cả về phạm vi và quy mô. Trong thời gian tới, nên phát triển mạnh thêm hướng nghiên cứu về thủy âm sinh học thụ động nhằm đạt kết quả cao trong việc khoanh vùng các bãi đẻ, các khu vực cần được bảo vệ giống loài thủy sản. Bên cạnh đó, cần ứng dụng công nghệ thủy âm sinh học thụ động trong nghiên cứu các đối tượng khác như thú biển (cá heo, cá voi, dugong), các loài cá, giáp xác hoặc các loài sinh vật biển khác.

Nguồn: Viện Tài Nguyên và Môi trường biển
Xử lý tin: Phương Hà



Tags:
Tin liên quan